Phụ tùng OEM cơ hội đổi đời cho kĩ thuật nhà máy thời 4.0

Đây không phải tít giật gân bạn sẽ có câu chả lời cách kiếm tiền online bằng năng lực kĩ thuật của mình trong bài viết này. Cũng xin lưu ý nó không phải cách kiềm tiền rẻ mạt như kiểu nhập mã captra, click link, hay kiểu đánh đố như những khóa học làm giàu không khó. Nó phù hợp cho kĩ thuật nhà máy đã có kinh nghiệm.

Ngành của tôi là cung cấp máy nén khí, phụ tùng máy nén khí, dầu máy nén khí, tóm lại cung cấp xyz máy nén khí. Nên tôi sẽ dùng kiến thức về máy nén khí để giải thích cho bạn khái niệm


1.Phụ tùng OEM là gì ?

Tôi có hẳn một bài viết về khái niệm này, nó cũng luôn là nội dung dược sao chép và đọc nhiều nhất của không những kĩ thuật, người mua hàng mà cả đối thủ những người bán hàng kĩ thuật ngành nghề khác. Do tụt hậu công nghệ SEO hiện nội dung này đã tụt hạng trên kết quả tìm kiếm google. Nó từng đứng số 1 Google trong nhiều năm liền, là câu chả lời được trích dẫn chả về trực tiếp khi bạn gõ phụ tùng OEM là gì? Tôi tin nó sớm quay lại top10 trong thời gian tới.

>>Phụ tùng OEM là gì ?
Tôi sẽ ví dụ cho bạn rễ hình dung:
Một công ty lớn về máy nén khí Atlas copco, Hitachi để sản xuất ra máy nén khí. Công việc chính là thiết kế và sản xuất phần chính của máy nén khí như đầu nén. Các linh kiện vật tư khác sẽ nhập của các nhà sản xuất khác.
-Động cơ điện của Siemens, điện áp cao có thể dùng động cơ ABB..trên động cơ vẫn ghi thương hiệu Siemens
-Lọc dầu, lọc gió, lọc tách dầu đặt MANN filter hoặc Donaldson...
-Van điện từ mua của Burkert solenoid valve...
-Vòng bi SKF, FAG...
-Thiết bị đóng cắt MCCB schneider, khớp nối rotex...

Hình thức hãng máy nén khí đặt hãng chuyên sản xuất lọc, có công nghệ lọc riêng như Mann, Donaldson. Nhưng lọc dầu ghi thương hiệu Atlas copco, Compair... đó là nhà sản xuất OEM. Cũng hãng Mann filter họ sản xuất ra lọc dầu dùng cho máy nén khí có nhãn hiệu Mann với mã W962. Mã lọc dầu W962 có thông số, chất lượng như lọc dầu Atlas copco. Lọc W962 được gọi là phụ tùng OEM. Chất lượng 02 loại lọc này là như nhau.

Động cơ điện của Siemens hay vòng bi SKF dùng cho máy nén khí Atlas copco vẫn giữ quy cách, bao bì nhãn mác SKF, Siemens đây gọi là sản phẩm ODM. Chất lượng phụ tùng là chất lượng của nhà sản xuất, nó có thể được cải tiến trong tương lai không phụ thuộc hãng sản xuất máy nén khí.

Cũng là lọc dầu dùng cho máy Atlas copco nhưng do một công ty abc Trung Quốc sản xuất gắn thương hiệu abc. Công ty này không gia công hàng cho Atlas copco phụ tùng này được gọi là Affter market. Chất lượng có thể bằng, cao hơn, nhưng đa phần là thấp hơn.

Bạn cũng cần hình dung nếu bạn là nhà sản xuất máy nén khí lớn thì bạn sẽ sản xuất trục vít còn 90% số linh kiện còn lại bạn sẽ nhập từ nhà cung cấp chuyên biệt, nếu bạn là thương hiệu nhỏ mình e là bạn chỉ lắp ráp máy nén khí từ các linh kiện rời.
Động cơ ABB hay siemen, lọc tách, lọc dầu từ Mann, Donaldson, dầu từ Total, shell, van điện từ tất nhiên là CKD, SMC...Nhà cung cấp có thể được thay đổi tùy theo tình hình sản xuất, chiến lược của doanh nghiệp.

2.Tại sao bạn cần tìm hiểu cặn kẽ về phụ tùng OEM ?

Thật đáng mừng khi chúng ta đặt ra câu hỏi này.
Lý do số 1: Vì có quá nhiều lựa chọn ngoài thị trường, chúng ta sống trong thời đại dư thừa sản phẩm hay nói cách khác dư thừa năng lực sản xuất. Giống bất kì sản phẩm nào khác trên thị trường hiện nay. Mặt hàng có thương hiệu vẫn đắt hơn hàng không có thương hiệu. Vậy với sản phẩm kĩ thuật như phụ tùng, dầu thì sự khác nhau là gì ?

Lý do số2: Vì giá chênh lệch có thể nên đến 500%

Khác bộ quần áo phụ tùng công nghiệp có khoảng chênh giá hai sản phẩm cùng thông số, chất lượng giá có thể chênh nhau 500%. Tôi ví dụ cho bạn nhé:
Một thùng dầu chính hãng thương hiệu Hitachi chuyên dùng cho máy nén khí Hitachi. Hitachi Hiscrew next có giá bán khoảng 10.500.000 đến 12.000.000 VNĐ đơn giá chưa VAT.
Với một xô dầu tương tự cùng phẩm cấp chất lượng giá 4.500.000 VNĐ đơn giá chưa VAT.

Vấn đề ở đây là gì ?

Vấn đề là có quá nhiều nhà cung cấp sản phẩm phụ trợ với chất lượng và mức giá khác nhau. Chưa kể Việt Nam rất gần Trung Quốc, mọi quy chuẩn có thể bị làm giả, bị dân buôn làm đảo lộn.
Đây cũng là lý do cho sản phẩm chính hãng luôn chiếm ưu thế. Với một thương hiệu chất lượng máy nén khí họ hướng tới là tốt nhất, trung bình hay rẻ nhất thì phụ kiện đi kèm cũng hướng tới điều đó. Thương hiệu của máy nén khí là sự đảm bảo cho chất lượng phụ tùng họ cung cấp.

3,Bạn kiếm tiền như nào từ phụ tùng OEM

Tiết kiệm chí phí duy trì hoạt động máy nén khí cũng như mọi máy khác cho công ty của bạn. Thậm chí bạn có thể áp dụng cho chuỗi cung ứng sản xuất của mình. bạn chỉ cần hiểu biết về nó hoặc mua sự hiểu biết về nó từ một chuyên gia trong ngành như Blog Trần Đình Huy chẳng hạn.
Với cá nhân kĩ thuật thì sao ? đây là một phạm trù rộng lớn nếu bạn áp dụng linh hoạt bạn có thể mở ra một tương lai nghề nghiệp rộng lớn. Lợi ích nhãn tiền với kĩ thuật nhà máy am hiểu đó là nâng cao năng lực chuyên môn bản thân, tăng quyền lực mềm (sức ảnh hưởng). Tất nhiên tăng thu nhập cá nhân thông qua tác động hoặc trực tiếp mua bán phụ tùng

Kiếm thêm thu nhập khủng. Tất nhiên đây không phải blog làm giàu hay bán khóa học làm giàu không khó. Đây là món quà cho ai đã căng mắt đọc đến dòng chữ này. Đây không phải là mảng kiến thức chia sẻ của Huy song nó là cái đích để bất kì kĩ thuật nào có thể đạt được. Bạn và tôi có cùng một thói qoen làm kĩ thuật muốn tìm tòi đến tận cùng của vấn đề. Tất nhiên cái bạn tìm cả ngày cả tháng chỉ để giải quyết một vấn đề ít hoặc hiếm khi sảy ra. Bạn may mắn có thể được đánh giá trọng dụng nên làm quản lý... những vị trí tốt hơn. Tuy nhiên đời không như mơ. Bạn đang có một cơ hội kiếm tiền online thông qua hình thức MMO (Make Money Online). Ồ bạn đừng vội dừng đọc vì nghĩ mình không có vốn, không biết kinh doanh. MMO là một mảng khá rộng mình không nói thêm mình chỉ đưa ra một gợi ý nhỏ nó phù hợp hầu hết kĩ thuật già(già nua suy nghĩ).

Bạn là kĩ thuật bạn ngẫu nhiên có một số vốn khổng lồ để kiếm tiền bằng cách đánh giá sản phẩm(review sản phẩm). Bạn chỉ cần dùng kiến thức kĩ thuật đánh giá cái quạt, máy sấy tóc, hay cái nồi cơm điện xem nó ra làm sao tốt xấu, dây điện, mạch điện có tốt không. Tất nhiên bạn phải diễn giải được nội dung bằng ngôn từ đại chúng không phải là dòng điện, điện trở, sức bền vật liệu....Mảng thị trường này vô cùng tiềm năng và nó rộng lớn vô cùng. Điều quan trọng tất cả công cụ hỗ trợ đều có sẵn. Chúng là cái gì?
1, Điện thoại để quay video, chụp ảnh sản phẩm
2, Biết dùng youtube / facebook / zalo...tất nhiên biết dùng google để tìm kiếm thông tin giống như cách bạn tìm kiếm ra Blog của tôi.
3, Biết các trang thương mại điện tử lớn như lazada, tiki...

Bạn cũng nên tận dụng cơ hội tiếp xúc môi trường làm việc của mình như nhà xưởng, dây truyền, máy móc. Nó là sân khấu để bạn làm thương hiệu cá nhân, làm sân khấu theo đúng nghĩa đen cho ảnh, khung quay review sản phẩm. Bạn hãy tưởng tượng một kĩ thuật nhà máy mặc quần áo bảo hộ của nhà máy chuyên sản xuất đèn xe máy Honda tại Vĩnh Phúc và bạn đánh giá về bóng đèn độ abc nào đó cho thị trường xe độ đằng sau là sây truyền sản xuất bóng đèn. Nếu có vấn đề xung đột trực tiếp sản phẩm bạn bán cạnh tranh với công ty bạn đang làm có lẽ hành vi trên sẽ vi phạm về mặt đạo đức. Nhưng bạn vẫn có thể dùng quá trình công tác tại công ty để xây dựng thương hiệu cá nhân. Tất nhiên hình ảnh và video là cách tốt nhất để làm điều đó.

4,Sách tham khảo/bài tập làm văn mẫu

Huy xin phép dừng tại đây không quá xa đà vào chia sẻ nội dung làm giàu không khó. Bạn quan tâm vui lòng tìm kiếm kiến thức về:
Kiếm tiền online,MMO, web5 ngày...
Bạn cũng xem những video đánh giá xe như xehay.vn, đánh giá sản phẩm công nghệ như điện thoại, máy tính nhưng bạn đừng xem những video đánh giá Iphone, Samsung, những gì quá to tát hãy tập trung những video đánh giá một cái gì đó đơn giản thân thuộc với sở thích của mình, và nó rất nhỏ bé không có thượng hiệu trên thị trường như Gimble, máy xay sinh tố xyz của tàu. Điều quan trọng bạn cần xem số lượng người xem và nguồn thu tiền cho bài đánh giá đó.

Xem cũng đừng nên quá hoa mắt trước rừng kiến thức mới hãy bắt đầu bằng mô hình review. Bạn có thể mang về số tiền gấp nhiều lần tiền lương của bạn hằng tháng bằng một video ngớ ngẩn đánh giá cái máy say sinh tố hoạt động ra sao, lưỡi như nào thì bền. Hay cả một cơ nghiệp như video máy say sinh tố nghiền Iphone nổi tiếng trên mạng. Nếu không nó cũng mở cho bạn một chân trời mới. Mình cũng là kĩ thuật, có nhiều kĩ thuật đã hóa rồng phượng trong mảng công nghệ, kinh doanh...Nhưng mình biết phần đông vẫn bó mình trong cái vỏ ốc kĩ thuật, quên đi chúng ta là một người bán hàng, bán chính khả năng lao động kĩ thuật của mình, tự chúng ta giới hạn sản phẩm mình bán, nơi mình bán bản thân. Không chỉ có nhà máy mới cần đến khả năng kĩ thuật của bạn, ngoài kia còn nhiều môi trường(cái chợ) để bạn bán năng lực của mình. Đến đây bạn cũng sẽ hiểu tại sao tôi viết blog để chia sẻ rồi chứ !

Dầu máy nén khí tất cả những điều bạn cần biết

Dầu chiếm 70% nguyên nhân chính dẫn tới các sự cố về máy nén khí phổ biến như nhiệt độ cao, nghẹt lọc dầu, lọc tách máy nén khí, hư hỏng cơ khí đầu nén, vòng bi.
Đây sẽ là bài viết đầy đủ nhất về dầu máy nén khí từng có từ trước đến nay. Ngoài tổng hợp kiến thức trên internet Huy còn lồng ghép kinh nghiệm thực tế trên 8 năm sửa chữa máy nén khí. Giúp bạn có đầy đủ thông tin để lựa chọn và hiểu biết về dầu máy nén khí.
>>Review một số thương hiệu dầu máy nén khí.
Tuy nhiên kiến thức về dầu máy nén khí có nhiều kiến thức chung với dầu bơm hút chân không, dầu động cơ máy phát điện, dầu thủy lực. Bên cạnh đó kĩ thuật vận hành quản lý máy nén cũng thường vận hành nhiều máy khác trong nhà xưởng.
Huy hi vọng những thông tin Huy cung cấp trong bài viết này có thể giúp bạn ứng dụng trong nhiều loại máy, thậm chí với xe máy/otô của mình với cùng một lần bỏ công sức đọc bài viết này. Tất nhiên nội dung sẽ rất dài không phải lúc nào bạn cũng cần dùng ngay hãy lưu dấu trang trình duyệt hoặc theo dõi Blog của Huy trên Zalo, Facebook, google+ để có thể xử dụng khi cần.

1.Thông số cơ bản của dầu

Chỉ số độ nhớt thường gọi tắt độ nhớt của dầu

Độ nhớt của dầu (Viscosity Index – VI) Là sự thay đổi độ nhớt của dầu nhờn trong khoảng nhiệt độ cho trước. Dầu nhờn có độ nhớt biến đổi lớn theo nhiệt độ VI thấp. Dầu nhờn có độ nhớt biến đổi nhỏ theo nhiệt độ VI cao. Trong đồ thị ASTM: độ dốc của đường thẳng biểu thị độ nhớt so với nhiệt độ chỉ ra tính chất của VI: Dốc nhiều (cao): VI thấp Dốc ít (thấp): VI cao

Làm Thế nào để có dầu Nhờn Có chỉ số đọ nhớt  cao ?
Phải chọn dầu gốc có VI cao.
Phải thêm phụ gia cải thiện tăng cường độ nhớt (VII – Viscosity Index Improver)
Hoặc phải phối hợp cả hai phương pháp nói trên

Với máy nén khí trục vít ngâm dầu, và trục vít oil free chỉ số độ nhớt mỗi hãng máy sẽ xử dụng dầu có chỉ số độ nhớt khác nhau tùy thuộc trình độ gia công cơ khí chính xác cao của đầu nén, lựa chọn thiết kế.
Máy nén trục vít ngâm dầu thường được xử dụng dầu có độ nhớt:
ISO VG 32
ISO VG 46
ISO VG68
Bạn sẽ gặp máy nén khí Hitachi, Kobelco, Sullair...sử dụng dầu có độ nhớt ISO VG32. Bạn cũng gặp máy nén Fusheng, Kuyngwon, Hanshin, Atlas copco.. xử dụng dầu có độ nhớt 46. Máy nén khí cũng có thể dùng dầu độ nhớt cao hơn chỉ định trong một số trường hợp như máy nén khí cũ có khe hở trục vít lớn hơn ban đầu do mài mòn, sửa chữa. Máy hoạt động trong điều kiện quá nóng. Độ nhớt cao sẽ làm kín tốt hơn.

Hiểu nhầm về chỉ số độ nhớt.
Thông thường tên dầu máy nén khí sẽ gắn liền với hậu tố là độ nhớt. Ví dụ dầu máy nén khí Shell Corola S3 R32, Corola S3 R46 tương tự với các hãng dầu máy nén khí khác. Đã có một vài đơn vị cung cấp tư vấn dầu 46 tốt hơn dầu 32,  có phẩm cấp tốt hơn. Điều này là hoàn toàn sai. Bạn chỉ cần chọn độ nhớt phù hợp với máy nén của bạn. Phẩm cấp dầu sẽ thể hiện ở những thông số khác của dầu.

Với máy nén piston dầu thường là dầu bôi trơn động cơ 15W40, 20W50, 10WW30...Nó rất sẵn mua tại cây xăng, đại lý gần nhà, giá thành cũng rẻ, lượng xử dụng với máy nén piston chỉ vài lít nên Huy không đi xâu vào chi tiết.

Hiện tượng nhủ hóa dầu *

Trong nhiều trường hợp dầu bôi trơn thường bị lẫn nước.
Nguyên nhân do:
Nước có trong không khí ngưng tụ do quá trình nén như dầu máy nén khí.
Dầu tiếp xúc với hơi nước (tuabin hơi nước – Preslia)
Hoặc do nước văng vào (dầu hợp số hở Dex3 ATF PL)

Nếu lượng nước không hoàn toàn tách ra thì nhủ  sẽ được tạo thành và nước được giữ trong dầu ở dạng nhủ tương. Chính nhủ tương này sẽ gây ra:
Hang rỉ các bộ phận kim loại.
Tăng khả năng oxy hóa của dầu nhờn và giảm khả năng bôi trơn của dầu.

Đối với dầu turbin: tạo nên cặn bùn, làm tắc ống dẫn, đẩy nhanh quá trình hư hỏng ổ bạc lót và các chi tiết cần bôi trơn (hộp giảm tốc)

Đối với dầu thủy lực và máy nén khí: do ngưng tụ sẽ gây hư hỏng các chi tiết chuyển động cần bôi trơn như vòng bi, phớt chắn dầu. suy giảm khả năng giải nhiệt. Làm han rỉ trục vít dẫn tới kẹt trục vít. Lượng nước nhủ hóa không thoát ra ngoài sẽ làm tăng thể tích dầu, làm dầu dâng cao và sẽ tràn ra ngoài qua van xả cấp tốc, hoặc theo đường khí xử dụng.

Riêng với máy nén khí quá trình ngưng tụ nước sảy ra liên tục khi không khí được nén lại. Vì vậy máy có van nhiệt. van nhiệt luôn đảm bảo nhiệt độ dầu nằm trên ngưỡng 45 độ C hoặc hơn tùy hãng thiết kế. Việc này sẽ giúp hơi nước trong dầu bay hơi hết, không ngưng tụ trong dầu bôi trơn. Trong nhiều trường hợp dầu bị nhủ tương bạn cần xem xét nhiệt độ dầu của máy nén khí hoạt động. Đồng thời kiểm tra van MPV để chắc chắn nước không rò rỉ từ đường ống đẩy ngược lại bình dầu của máy nén khí.

Đối với dầu hộp số hở và kín: do nước văng tóe vào các chi tiết trên sẽ giảm tuổi thọ chuyển động.

Có một số loại dầu chúng ta cần tính tạo nhủ cao như:

Dầu bôi trơn cho các máy khoan đá vỉ luôn phải tiếp xúc với nước do đó việc tạo nhủ là cần thiết nhằm giúp cho việc tạo màn dầu bảo vệ kim loại và chống mài mòn.

Dầu gia công cắt gọt kim loại cần phải dễ dàng hòa trộn với nước làm tăng khả năng làm mát của dầu và những phụ gia đặc biệt giúp dầu có tính bôi trơn tốt.

Dầu thủy lực pha với nước nhằm tránh cháy nổ khi sử dụng các hệ thống thủy lực ở hầm mỏ hoặc nơi có nhiệt độ cao nhưng vẫn được bảo đảm tính năng bôi trơn và đặc tính của dầu thủy lực.

Nhiệt độ chớp cháy/điểm chớp cháy CLEVELAND (cốc hở)

a. Định nghĩa nhiệt độ chớp cháy (NĐCC), điểm chớp cháy (ĐCC):

NĐCC là nhiệt độ thấp nhất mà tại áp suất khí quyển (101, 3 KPa), mẫu dầu nhớt được nung nóng đến bốc hơi và bắt lửa. Mẫu sẽ chớp cháy khi có ngọn lửa và lan truyền tức thì ra khắp bề mặt của mẫu dầu.

Như vậy:
Nhiệt độ chớp cháy là nhiệt độ mà tại đó lượng hơi thoát ra từ bề mặt của mẫu dầu nhờn sẽ bốc cháy khi có ngọn lửa đưa vào.

Và: Nhiệt độ thấp nhất mà tại đó hơi thoát ra từ mẫu dầu nhờn vần tiếp tục cháy được trong 5 giây gọi là điểm bắt lửa. Điểm chớp cháy và điểm bắt lửa phụ thuộc vào độ nhớt của dầu nhờn:

Dầu nhờn có độ nhớt thấp thì điểm chớp cháy và điểm bắt lửa thấp
Ngược lại, dầu nhờn có độ nhớt cao điểm chớp cháy và điểm bắt lửa cao.
Điểm chớp cháy và điểm bắt lửa cũng phụ thuộc vào loại dầu gốc:

Dầu gốc loại Napthenic có điểm chớp cháy và điểm bắt lửa nhỏ hơn dầu gốc Paraffinic khi có cùng độ nhớt.Nói chung, đối với các hợp chất tương tự nhau thì điểm chớp cháy và điểm bắt lửa tăng khi trọng lượng phân tử tăng.

Ví dụ: dầu nhờn, dầu FO, DO, dung môi…
Tại sao phải cần thử nghiệm và xác định điểm chớp cháy?

Vì: Phòng chống cháy nổ khi dầu nhờn làm việc ở nhiệt độ cao.

Tránh tổn thất hoặc hao hụt (bay hơi) nghĩa là dầu nhờn phải làm việc trong môi trường mà nhiệt độ cao nhất tại đó phải thấp hơn nhiệt độ chớp cháy của dầu để tránh tổn thất của dầu nhờn do bay hơi cũng như cháy nổ.

Thông thường nhiệt độ chớp cháy của dầu đã sử dụng không thay đổi nhiều so với dầu mới. Nếu thấp hơn nhiều là do trộn lẫn vô số chất có điểm chớp cháy thấp (nhiên liệu). Nếu cao hơn là do dầu bị nhiểm bẩn hoặc do lẫn với dầu nhờn có độ nhớt cao hơn.

Để xác định nhiệt độ chớp cháy có 02 phương pháp:
Phương pháp cốc hở Cleveland (COC + Cleveland Open Cup)
Phương pháp cốc kín Pensky – Marsten (PMCC – Pensky Martens Closed Cup)

Như:
Sự trộn lẫn dầu DO của động cơ Diesel vào dầu nhờn làm điểm chớp cháy giảm và độ nhớt cũng giảm.Hoặc đối với những loại nhớt tổng hợp dùng cho động cơ 2 thì. Để xác định chính xác điểm chớp cháy không thể dùng điểm chớp cháy Cleveland, cũng như dầu phanh (HBF3/4) mà phải dùng phương pháp PMCC. Vì PMCC có điểm chớp cháy thấp hơn COC do nó có tính an toàn cao hơn.

Phương pháp làm thí nghiệm xác định điểm chớp cháy:
Ngọn lửa thử: D = 5/32 ” (4mm)
Khuấy đều mẫu
Nhiệt độ tăng lên từ 50C – 60C/phút (90F – 110F)

Và cứ nhiệt độ tăng lên 10 C (20F) thì ta đưa ngọn lửa vào cho đến khi đạt 1040C (2200F). Khi trên 1040C thì ta đưa ngọn lửa thử vào khi nhiệt độ tăng 2,70C (50F). Đến khi ngọn lửa phựt cháy trên bề mặt bốc hơi của mẫu thì nhiệt độ tại đó gọi là nhiệt độ chớp cháy (điểm chớp cháy) và nếu sự phựt cháy kéo dài trong 5 giây thì nhiệt độ tại đó gọi là điểm bắt lửa.


Trị số kiềm tổng TBN (ASTM D 2896)


Phương pháp thử nghiệm theo tiêu chuẩn ASTM D 2895 rất thông dụng đối với dầu động cơ Diesel

Định nghĩa:

Trị số TBN là độ kiềm trong dầu bôi trơn cho biết lượng Acid Percloric (HCLO4) được quy đổi tương đương lượng KOH (tính bằng mg) cần thiết để trung hòa hết các hợp chất mang tính kiềm có trong 1 gram mẫu dầu nhờn.Tại sao trong dầu nhờn động cơ diesel phải có TBN?

Trước hết ta hãy xem lưu huỳnh trong nhiên liệu dầu DO hoặc HFO tác động đến xylanh và piston như thế nào ?

Hầu hết nhiên liệu đều có chứa lưu huỳnh (S)

DO: S £ 0.5%

HFO: 0.5% < S £ 5%

Lưu huỳnh tồn tại trong nhiên liệu dưới dạng hợp chất lưu huỳnh và các phân tử Hydro carbon.
Trong quá trình cháy nổ: S + O2 ® SO2 (nhiệt độ cao và dạng khí)
SO2 không cháy nhưng ở nhiệt độ cao lại phản ứng với O2 cho ra SO3 và toả nhiệt
2 SO2 + O2 ® 2 SO3 + 62,200 Calors
SO3 + H2 O (khí nạp vào buồng đốt, sinh ra sự đốt cháy Hydro trong nhiên liệu) H2 SO4

Chính acid H2 SO4 gây ra sự ăn mòn hóa học và mài mòn của xylanh và vòng bạc secmăng nhanh chóng.

Vậy để tránh xảy ra vấn đề trên thì:

Giảm hàm lượng lưu huỳnh trong nhiên liệu (S = 0.04% – 0.05%) nhưng chi phí sản xuất cao (dùng cho các động cơ Diesel CAT, API, CG4 ® TOTAL Rubia 6400)

Hoặc đưa một lượng kiềm cần thiết vào trong dầu nhờn để trung hòa lượng Acid sinh ra trong quá trình cháy nổ của động cơ Diesel.

Đó là lý do có thông số TBN trong dầu nhờn động cơ Diesel.

Tuy nhiên, thường các nhà chế tạo động cơ Diesel đưa ra mức TBN trong dầu nhờn tương ứng với hàm lượng lưu huỳnh có trong nhiên liệu(%S)

Ví Dụ:

WARTSILA: TBN = 7 + % S x 11 (S = 3% ® TBN = 7 + 3×11 = 40)NIIGATA: S <1% TBN = 15 – 20

1% < S < 2% TBN = 25 – 30

2% < S < 3.5% TBN = 30 – 40

3.5% < S < 5% TBN = 40 – 75

 Trị số axít tổng (TAN)

Định nghĩa: Là lượng kiềm KOH (tính bằng mg) cần thiết để trung hòa hết tất cả các hợp chất mang tính axit có trong 1g mẫu dầu nhờn.

Thường thấy ở dầu cách điện (Isovoltine KA 7-4, Isovoltine II)
Dầu máy nén khí lạnh (Lunaria K, Lunaria KT)
Tại sao phải giới hạn TAN trong dầu nhờn ?

Đối với hầu hết các loại dầu bôi trơn đều có chỉ số TAN ban đầu tương đối nhỏ và tăng dần trong quá trính sử dụng. Khi TAN tăng lên sẽ đánh mất tính năng chống oxy hóa của dầu nhờn và lúc đó dầu lại bị oxy hóa làm cho TAN trong dầu lại tiếp tục tăng lên và sẽ làm giảm tuổi thọ của dầu.Chỉ số TAN của dầu đã sử dụng (dầu thải) là một đại lượng đánh giá mức độ biến chất của dầu do quá trình oxy hóa. Tuy nhiên đó không phải là tiêu chuẩn duy nhất để xác định sự biến chất của dầu do quá trình oxy hóa mà phải còn phải xem xét đến thông số khác như: độ nhớt, hàm lượng tạp chất cơ học và cặn.

Lưu ý:
Đối với dầu có phụ gia chống mài mòn kẽm Diankyl Dithiophotphat (Zn DDP) như dầu thủy lực thì có chứa hàm lượng axit ban đầu cao nên giá trị TAN ban đầu không thể tiên đoán chính xác chất lượng của dầu và trong giai đoạn đầu sử dụng TAN thay đổi đáng kể và đánh mất đi tính năng chống oxy hóa của dầu.

Tại sao phải giới hạn TAN trong dầu biến thế ?

Những yếu tố quan trọng trong dầu biến thế:
Khả năng cách điện.
Độ sạch của dầu (cặn bẩn)
Độ ẩm, khả năng chống oxy hóa.
Do đó nếu TAN tăng quá giới hạn (0.03 max) thì dầu bị oxy hoá dẫn đến:
Tăng độ nhớt, giải nhiệt kém nguy hiểm
Ăn mòn mạnh và gây cặn bẩn tính cách điện kém và tính chống oxy hóa giảm.
Đối với dầu máy nén khí lạnh:

Những yếu tố quan trọng:
Tính chất ổn định hoá học và nhiệt (dầu vừa chịu nhiệt độ cao và thấp)
Tính cách điện (đối với máy kính: cuộn dây nằm trong lốc máy)
Độ nhớt: tạo màng dầu tốt ở nhiệt độ cao và loãng để hồi dầu hoàn toàn khi nhiệt độ thấp.

Do đó nếu TAN tăng quá giới hạn (0.05 max và trị số trung hòa TAN + TBN < 0.2) thì dẫn đến:

Tính oxy hóa tăng, độ nhớt tăng, khả năng bôi trơn ở nhiệt độ kém và dễ bị tác dụng với môi chất lạnh làm hư máy nén.
Ăn mòn các chi tiết và không đáp ứng được tính bôi trơn ở nhiệt độ cao cũng như nhiệt độ thấp.
Khả năng cách điện kém, hư cuộn dây và lốc máy.

Đối với dầu turbin: (ASTM D 664: chuẩn độ điện thế)
Các yếu tố quan trọng:
Chống tạo bọt, nhủ
Chống mài mòn, ăn mòn
Chống oxy hóa và cặn

TAN không được tăng quá giới hạn (0.2 max) vì:

+ Tạo cặn
+ Acid hữu cơ, dầu bị đặc lại (tăng độ nhớt)
+ Sự oxy hoá tăng sản phẩm oxy hoá không tan tạo thành keo
+ Giảm tính khử nhủ, khả năng giải phóng bọt khí kém hư hỏng thiết bị.

Trị số trung hòa:

Thực chất là trị số acid trong dầu nhờn. Tuy nhiên tùy theo loại và tính chất yêu cầu của dầu nhờn mà người ta xét đến TAN hoặc TBN.

Nếu là dầu động cơ thì trị số TBN là quan trọng hơn người ta dùng axit Perclohyric (HCLO4) để xác định tính kiềm của mẫu dầu (TBN) từ lượng HCLO4 tiêu hao để trung hoà kiềm trong mẫu dầu ta xác định được lượng kiềm trong mẫu. Nhưng vì để thống nhất đơn vị người ta quy định lượng HCLO4 ra tương đương mg KOH.

Ngược lại đối với dầu biến thế, dầu turbin, dầu máy nén khí lạnh thì trị số TAN là quan trọng dễ ảnh hưởng đến tính chất và khả năng sử dụng của dầu. Do đó để xác định hàm lượng TAN (đối với dầu mới lẫn dầu cũ) có nằm trong phạm vi cho phép không, thì người ta dùng kiềm KOH để trung hoà lượng axit có trong mẫu dầu, lượng KOH tiêu hao này cho đến khi mẫu đến đích trạng thái trung hòa chính là lượng axit có trong dầu.

Tại sao cần phải xác định hàm lượng nước trong dầu nhờn?
Bởi vì:Hàm lượng nước trong dầu bôi trơn là một đặc trưng quan trọng đối với:
Dầu thủy lực, Dầu máy nén khí.
Dầu bánh răng công nghiệp.
Dầu động cơ Diesel.
Dầu turbin.
Dầy xylanh hơi nước.

Đặc biệt nó cực kỳ quan trọng đối với dầu biến thế. Nước trong dầu bôi trơn không những đẩy nhanh sự ăn mòn và oxy hoá mà còn gây ra hiện tượng nhủ tương. Trong một vài trường hợp nó còn gây ra hiện tượng thủy phân các phụ gia tạo ra cặn bùn.

Nếu hàm lượng nước trong dầu nhờn công nghiệp không phải ở mức vết/trace (0.1% wt) thì phải loại chúng bằng phương pháp ly tâm, cất chân không hoặc lọc.

Một số chỉ tiêu giới hạn trong dầu nhờn đối với hàm lượng nước:
Dầu động cơ diesel: không có hoặc <0.1% wt (vết/trace) (ASTM D 95)
Dầu biến thế: không có hoặc < 30 ppm (max)
Dầu thủy lực: không có hoặc <0.1% wt trong quá trình sử dụng nếu > 0.2% wt thì phải thay vì sẽ ăn mòn hệ thống thủy lực và thủy phân các hợp chất phụ gia.

Dầu hộp số: hàm lượng nước < 0.2 % wt. Trong quá trình sử dụng nếu > 0.5% wt thì phải thay.
+ Dầu turbin: không có hoặc < 0.1% wt
+ Dầu nén khí lạnh: < 50 ppm
+ Dầu nén khí: không có hoặc < 0.1 % wt

 Ăn mòn lưu huỳnh (Sulphure Corrosive – Ăn mòn bởi surphure)


Tại sao lại có chỉ tiêu này ?
Lưu huỳnh có sẳn trong dầu gốc hay phụ gia. Nó có thể ở dạng hoạt động hoặc trơ khi kết hợp với các chất khác.

Lưu huỳnh hoạt động là loại tác dụng được với kim loại đồng ở nhiệt độ cao và hậu quả không mong muốn của lưu huỳnh là gây ăn mòn đồng. Chính từ lý do đó cho nên trong dầu biến thế người ta phải yêu cầu dầu không có tính năng ăn mòn bởi surphure.

Vì: Các cuộn dây đồng trong máy biến thế được ngâm trong dầu và để ngoài trời nếu tính năng không bảo đảm sẽ gây ra nguy hiểm cho máy biến thế do dây đồng bị ăn mòn và sự cách điện của các dây không còn tác dụng và tạo cặn làm giảm tuổi thọ của dầu

Do đó: Đối với dầu biến thế phải xác định độ ăn mòn surphure hoặc độ ăn mòn bởi lá đồng đối với dầu mới.Hậu quả không mong muốn của lưu huỳnh là gây ăn mòn, như ăn mòn đồng. Tuy nhiên, do những hiệu ứng của phụ gia cực áp, điều tiết quá trình chạy máy đã bù trừ tác dụng ăn mòn này. Do đó, trong nhiều trường hợp S có trong dầu nhờn ở dạng phụ gia thường kết hợp với nguyên tố khác (clor, photpho) như phụ gia chịu cực áp, chống mài mòn, chống oxy hoá và chống ăn mòn hoá học.

Ăn mòn lá đồng (100 độ C trong 3 giờ)


Khái niệm:
Dầu thô khi khai thác có chứa các hợp chất lưu huỳnh, phần lớn các hợp chất này được loại ra khỏi dầu trong quá trình tinh luyện. Tuy nhiên, các hợp chất lưu huỳnh còn lại sẽ gây ăn mòn nhiều kim loại khác nhau nhưng độ ăn mòn này không phải lúc nào cũng tương quan với từng hàm lượng lưu huỳnh có trong dầu. Hiện tượng ăn mòn tuỳ thuộc vào loại hợp chất hoá học của lưu huỳnh có trong dầu (hoạt động hay trơ)

Sự ăn mòn được định nghĩa như một sự oxy hoá trên bề mặt kim loại gây nên sự tổn thất kim loại hay sự tích tụ các cặn bẩn. Đối với các ổ trục bằng hợp kim đồng, các ống lót trục và các bộ phận chuyển động của trục vít bằng đồng thau phải được bôi trơn bằng các loại dầu không gây ăn mòn. Cũng như các loại dầu khác như: dầu thủy lực, dầu hàng không, dầu cắt gọt kim loại, đặc biệt là dầu biến thế và máy nén khí lạnh phải không gây ăn mòn đồng.

Vì vậy:
Để xem xét dầu nhờn có thích hợp với các kim loại dễ bị ăn mòn hay không người ta phải tiến hành phép thử ăn mòn với tấm đồng.

Tính ổn định oxy Hóa ở 1000C, 164 GIỜ (IEC)

Đây là các thông số chính yếu được xem xét đối với 02 loại dầu:
Dầu máy biến thế
Dầu turbin

Người ta sẽ thử theo những phương pháp khác nhau đối với hai loại dầu này.

Khái niệm: Tại sao phải có thông số này, đặc biệt đối với hai loại dầu biến thế và turbine?

Quá trình oxy hóa là một dạng làm hỏng tính chất hóa học của dầu nhờn. Độ bền của dầu nhờn đối với quá trình oxy hóa là một đặc trưng quan trọng. Đặc biệt đối với dầu turbine và dầu máy biến thế đòi họi loại dầu này phải có tuổi thọ lâu dài.

Sự oxy hóa của dầu bôi trơn phụ thuộc vào 03 yếu tố chính sau:

- Nhiệt độ
- Sự hiện diện của oxy
- Hiệu ứng xúc tác của kim loại như Cu, Fe,…

Nếu ta biết được điều kiện làm việc của dầu nhờn thì 03 điều kiện trên có thể thay đổi để đưa ra được điều kiện thử nghiệm ở phòng thí nghiệm tương đương với điều kiện thực tế mà dầu sử dụng bên ngoài. Tuy nhiên, sự oxy hóa dầu nhờn trong quá trình sử dụng là một quá trình cực kỳ chậm và phép thử như vậy rất tốn nhiều thời gian. Do đó để rút ngắn thời gian người ta phải tăng nhiệt độ để tăng quá trình oxy hóa.

Phép thử đo độ bền oxy hóa của dầu là cơ sở để đánh giá tuổi thọ tương đối của dầu bôi trơn.

Quá trình oxy hóa nói chung được xác định là phản ứng dây chuyền của các gốc tự do sau:
R + O –> ROO (1)

Những gốc hoạt động R đầu tiên được hình thành từ những phần tử dầu không bền, chịu tác động của oxy trong không khí tạo ra những gốc peroxyl (ROO)

ROO + RH –> ROOH + R (2)

Peroxyl ROO sau đó lại tác động với chưa bị oxy hóa RH tạo thành những hạt nhân phản ứng mới (R) và Hydro peroxyl (ROOH)

ROOH –> RO + HO (3)

Các hydroperoxyl này không bền lại sinh ra các gốc mới để phát triển phản ứng tạo thành các ancol, xeton, andeliyt, axitcarbonic, và các hợp chất khác.
Trong khi phản ứng oxy hóa tiếp diễn, các hợp chất chứa oxy bị polynce hóa tạo thành những chất có độ nhớt cao, mà đến một nhiệt độ nào đó trở nên không tan trong dầu.

Như vậy:
Quá trình oxy hóa gây ra những hợp chất không tan trong dầu đó là cặn (sludge)

Và: Một số hợp chất oxy hóa là những chất phân cực hoạt động là các axit làm tăng nhanh quá trình rỉ sét và ăn mòn.

Chính từ các lý do này nên hai thông số cần phải xét độ bền oxy hóa của dầu là hàm lượng axit (trị số trung hòa) và hàm lượng cặn (sludge)
Điều kiện của quá trình oxy hóa:
Có mặt của oxy
Axit
Nhiệt độ L
Tác dụng xúc tác của kim loại (Cu, Fe)
Các sản phẩm của quá trình oxy hóa:
Axit
Cặn

Dầu phanh:

Khái Niệm: Dầu phanh là dạng chất lỏng truyền áp lực từ chân đạp phanh đến hệ thống nén phanh ép vào đĩa (phanh đĩa) hoặc tang trống.

Điều kiện làm việc:

Nhiệt độ của dầu phanh khi làm việc rất cao vì:
+ Xe đông đúc trong thành phố do đó phải cần sử dụng hệ thống phanh liên tục.
+ Xu hướng thiết kế khí động học của xe làm giới hạn khả năng làm mát tự nhiên của hệ thống phanh.

Dưới những điều kiện khắc nghiệt như vậy đĩa phanh (hệ thống phanh đĩa) có thể đạt đến 500 độ C và tang trống phanh có thể đạt đến 300 độ C – 400 độ C. Do sự truyền nhiệt, nhiệt độ của dầu phanh có thể đạt đến 220 độ C. Nhiệt độ này được xem là điểm sôi của dầu phanh, thậm chí thấp hơn 220 độ C nếu như dầu phanh không sạch hoặc bị nhiểm bẩn.


Điểm sôi (boiling point)? Nút hơi nước (vapor lock)?

Dầu phanh tổng hợp có khuynh hướng hút hơi nước từ không khí và nó khuếch tán thông qua đường ống dẫn và lỗ thông gió của bình chứa dầu phanh.

Sự hiện diện của nước làm cho điểm sôi của dầu phanh thấp và như vậy làm cho sự giải phóng bọt khí dễ dàng xãy ra của dầu phanh trong hệ thống phanh.

Khí, không như chất lỏng, là nén được, với kết quả này áp lực sẽ không truyền đến đĩa phanh hoặc tang trống. Hiện tượng này gọi là nút hơi nước.

Điểm sôi của dầu phanh được xác định theo 2 cách khác nhau:

+ Điểm sôi khô, là nhiệt độ nếu tại đó dầu phanh tinh sạch bốc hơi.
+ Điểm sôi ướt, là nhiệt độ mà tại đó mẫu dầu phanh tương tự như mẫu xác định điểm sôi khi bốc hơi, nhưng mẫu này cho hấp thu hơi nước tương đương với dầu phanh sử dụng ở điều kiện bình thường thực tế của xe trong hai năm. Sự xác định điểm sôi ướt nhằm mục đích là xét đến sự an toàn cũng như cho phép đánh giá khả năng hút hơi ẩm của dầu phanh.

Các tiêu chuẩn của dầu phanh tổng hợp:
Có 3 tiêu chuẩn:
SAE J 1703
ISO 4925

DOT

* DOT: (US: National Highway Safety Bureau Department of Transportation): Cục An Toàn Đường Cao Tốc Quốc Gia Của Bộ Giao Thông Vận Tải Hoa Kỳ.

Hiện nay có 3 cấp: DOT 3, DOT 4, DOT 5
DOT 3 là thấp nhất
DOT 4 khá thông dụng
DOT 5 cao cấp nhất và có gốc là silicone nó không tương thích với DOT 3 và DOT 4 có gốc là Glycol.

Do đó ngày nay người ta nâng cấp DOT 5 thành DOT 5.1 có gốc là Glycol dễ dàng tương thích với DOT 3 và DOT 4


* SAE J 1703: (Society of Automative Engineering)
Từ khi tiêu chuẩn DOT 3 và DOT 4 ra đời nó đã được sử dụng rộng rãi đối với những nhà chế tạo ô tô và tiêu chuẩn SAE J 1703 ít được sử dụng hơn kể từ đó.

* ISO 4925:Tiêu chuẩn này tương đương với DOT 3, nhưng ít được sử dụng.
Các tiêu chuẩn kỹ thuật ISO, SAE, DOT yêu cầu những tiêu chuẩn tối thiểu có liên quan đến các đặc điểm sau:

Điểm sôi khô và điểm sôi ướt.
Khả năng hút ẩm cho phép.
Độ nhớt, độ pH.
Tính ổn định khi làm việc ở nhiệt độ cao cũng như loãng ở nhiệt độ thấp.
Hóa tính ổn định.
Tính năng ăn mòn kim loại.
Sự bốc hơi.
Tính tương thích, bền oxy hóa.
Tác dụng với các chất cao su cũng như độ bền dầu phanh.

2.Phân loại dầu máy nén

Có hai cách phân loại dầu phổ biến
Phân loại dựa trên công năng của dầu dùng cho mục đích như thế nào.

  1. Dầu cho máy nén khí trục vít ngâm dầu, trục vít cánh gạt
  2. Dầu cho máy nén khí trục vít oil free
  3. Dầu cho máy nén Piston
  4. Dầu cho máy nén ngành thực phẩm, y tế
  5. Dầu tẩy rửa máy nén khí
  6. Dầu máy nén lạnh

Phân loại dựa trên thành phần dầu
Phổ biến nhất là phân loại dầu theo gốc dầu

  1. Dầu gốc khoáng là loại dầu giá rẻ, tuổi thọ 2000~6000h
  2. Dầu tổng hợp là dầu cao cấp giá thành cao tuổi thọ từ 6000~12000h

Một số hãng có dầu vĩnh cửu tuy nhiên nó chưa phổ biến đến mức phải xếp vào một danh mục riêng.

3.Một số loại dầu phổ biến trên thị trường

Chúng có thể được sản xuất bởi nhiều hãng khác nhau với tên gọi khác nhau. Tất cả đều được quy về gốc dầu để so sánh và đánh giá. Gốc dầu là thành tố quyết định chính chất lượng cũng như tính năng của dầu bôi trơn nói chung dầu máy nén khí nói riêng.

Một số loại dầu và chất bôi trơn có thể được sử dụng trong máy nén khí, bao gồm dầu nhờn tổng hợp polyalphaolefin (PAO), dầu nhờn tổng hợp polyoxyalkylene glycol (PAG), dầu nhờn tổng hợp (POE), dầu khoáng. Mỗi loại sẽ có ưu và nhược điểm riêng.

Các dầu máy nén khí này không được hoán đổi cho nhau (chỉ hoán đổi trong một số trường hợp nhất định, cần được hướng dẫn từ một chuyên gia, Hoặc hãy liên hệ với Huy).

PAO LUBRICANTS

PAO chất bôi trơn có lẽ là chất bôi trơn phổ biến nhất được tìm thấy trong máy nén khí. Chúng ít bị oxy hóa và phân hủy, xả nước tốt và có điểm rót thấp. Chúng cũng có độ nhớt cao, để chúng phù hợp với các ứng dụng nhất định như bôi trơn động cơ và bánh răng trong ô tô.

Dầu bôi trơn PAO có một số nhược điểm, tuy nhiên. Do độ hòa tan vốn có thấp của chúng, chúng không thể hòa tan các chất phụ gia một cách hiệu quả. Tương tự như vậy, chúng không thể đình chỉ các sản phẩm phụ gây suy thoái có thể làm hỏng các cơ chế thiết yếu trong một máy nén khí. Kết quả là, chúng mang lại rủi ro lớn hơn khi được sử dụng trong máy nén khí không được thiết kế để xử lý chúng.

Trong một số trường hợp, độ nhớt cao của chất bôi trơn PAO cũng có thể là một nhược điểm. Vì dầu bôi trơn PAO có thể làm tăng mức năng lượng vận hành và rủi ro cung cấp dầu bôi trơn không đầy đủ tới các điểm quan trọng với đường dẫn có đường kính nhỏ, nên sử dụng chúng trong máy nén chạy trên chất bôi trơn có mức ISO cao hơn. Ngoài ra, PAO giảm nhanh khi nhiệt độ vận hành của máy tăng vượt quá điểm thiết kế bình thường, khiến chúng không được trang bị đầy đủ cho một số máy nén khí.

PAG LUBRICANTS

Giống như các đối thủ cạnh tranh PAO của họ, các tùy chọn chất bôi trơn PAG có tính ổn định oxy hóa và nhiệt cao và một VI mạnh mẽ. Theo Máy bôi trơn, họ bổ sung cho các thuộc tính này với “sức mạnh phim tuyệt vời và xu hướng rất thấp để lại tiền gửi trên bề mặt máy.”

Hai lớp PAG tồn tại. Loại đầu tiên có thể hấp thụ nước, một khả năng có thể giữ cho máy nén bằng máy ngưng tụ hoặc các vấn đề ô nhiễm nước được bôi trơn tốt. Loại còn lại là chất khử nhũ tương - một sản phẩm tách nước ra khỏi dầu. PAG chất bôi trơn hòa tan tiền gửi tốt và đốt sạch, nhưng vì chúng có thể hơi đắt tiền, chúng có thể không phải là đầu tư hiệu quả nhất về chi phí nếu máy nén của bạn không bị ẩm quá mức.

DẦU KHOÁNG

Dầu khoáng và dầu bôi trơn PAG có chung một số tính chất tương tự, nhưng nó thường rẻ hơn nhiều, và nó cung cấp độ hòa tan phụ gia cao hơn nhiều. Vì nó cũng tương thích với nhiều loại chất bôi trơn khác, nên dễ dàng kết hợp với các sản phẩm khác.

Thật không may, dầu khoáng cũng có xu hướng nóng và vỡ rất nhanh, tăng nhu cầu thay dầu thường xuyên. Kết quả là, nó có thể gây ra vấn đề đáng kể trong máy nén trục vít quay, trong đó cánh quạt thủy phi cơ trên một bộ phim của chất bôi trơn có một phần ba độ dày của một sợi tóc người duy nhất. Nếu chất bôi trơn bị phá vỡ quá nhanh và các lưỡi dao kim loại tiếp xúc với tường stato, lỗi sẽ xảy ra.
DISTRER LUBRICANTS Dầu nhờn diester được hưởng nhiều ưu điểm tương tự như các loại dầu nhờn thông thường khác, bao gồm “ổn định oxy hóa và ổn định nhiệt, VI rất cao và độ hòa tan tuyệt vời.” Chúng cũng có đặc tính làm ướt kim loại mạnh và biến động thấp. Vì chúng cũng có thể phân hủy sinh học, chúng là một sản phẩm thân thiện với môi trường hơn nhiều. Cao detergency của họ làm cho chúng đặc biệt phù hợp với máy nén khí, tạo ra tiết kiệm lớn hơn rất nhiều đầu tư ban đầu.

Thay đổi nhãn hiệu dầu bạn đang dùng

Việc thay đổi nhãn hiệu có thể đồng nghĩa thay đổi gốc dầu bạn đang dùng. Bạn cần tháo sạch sẽ dầu máy nén cũ, tháo xả rốn đáy giàn trao đổi nhiệt, đáy đường ống với máy lớn, đầu nén. Nếu có thể bạn hãy chạy một lượt dầu mới xục rửa toàn bộ máy nén. Sau đó đổ dầu mới.

Việc thay đổi thương hiệu dầu đang xử dụng giúp bạn tiết kiệm một lượng chi phí. Nhưng bạn cũng phải đối diện với rủi do máy nén bị hư hỏng nặng vì keo dầu, nhiệt độ cao. Đây là nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng keo dầu đầu nén. Chi phí khắc phục là rất lớn, lớn hơn nhiều số tiền bạn tiết kiệm được từ việc chuyển đổi thương hiệu dầu đang xử dụng.
Lưu ý: Huy không đề cập đến dầu mới chất lượng kém hơn. Vấn đề ở đây là hai loại dầu phản ứng với nhau, dẫn tới biến chất dầu.

Để giúp bạn đầu tư đúng sản phẩm, Huy đã nêu rõ sự khác biệt chính giữa các loại dầu nhờn phổ biến nhất để minh họa cách mỗi loại có thể mang lại lợi ích (hoặc gây hại) cho máy nén khí của bạn. Bạn cũng có thể liên hệ với tôi để nhận được tư vấn kĩ hơn khi bạn gặp vấn đề này. Bao gồm cả biện pháp xử lý hậu quả.

Lời khuyên

Tôi khuyên bạn nên phục vụ máy nén khí của bạn với chất bôi trơn được thiết kế cho nó trong suốt cuộc đời làm việc của nó. Tham khảo hướng dẫn vận hành của máy để xác định chất bôi trơn phù hợp cho máy nén của bạn. Nếu bạn cần kinh nghiệm của tôi đừng ngần ngại liên lạc với tôi.








Hướng dẫn Bảo dưỡng định kì máy nén khí trục vít ngâm dầu

Loạt bài Hướng dẫn bảo dưỡng máy nén khí trục vít ngâm dầu(oil injected). Chia sẻ đầy về bảo dưỡng máy nén khí trục vít ngâm/phun dầu. Nội dung được áp dụng cho mọi máy nén công nghệ trục vít ngâm dầu.
Nhằm tránh nội dung trùng lặp, giúp kĩ thuật có thể nắm bắt từ gốc rễ, nguyên lý đến thực tế áp dụng vào máy nén khí nhà máy xử dụng. Nội dung chia sẻ chuyên theo hãng máy nén khí được xử dụng phổ biến tại Việt Nam như Hitachi, Atlas copco, Sullair, Ingersoll Rand... sẽ được sen kẽ trong loạt bài viết này.
---------------------------------------------------
Nếu bạn cần dịch vụ bảo dưỡng máy nén khí chuyên nghiệp hãy liên hệ tới:
Mobile: 0974 899 898 (Zalo, Mr.Huy)
Email: khinenachau@gmail.com
----------------------------------------------------


Tổng quan về bảo dưỡng máy nén khí.

Bài viết giới thiệu theo danh mục từng thiết bị chính trong máy nén khí, hệ thống khí nén. Nội dung giúp quản lý kĩ thuật, kĩ thuật nắm bắt được hạng mục bảo dưỡng cần thiết. Đồng thời Huy giải thích
Tại sao cần bảo dưỡng?
Bảo dưỡng như thế nào?
Kinh nghiệm của Huy nhằm tiết kiệm chi phí, nhưng đạt hiệu quả cao nhất. Bài viết cũng sẽ giúp kĩ thuật chuẩn đoán, làm cơ sở chuẩn đoán cho các bệnh máy nén khí thường gặp.

1,Check list bảo dưỡng

Mọi công việc, mô hình bảo dưỡng đều dùng số giờ chạy máy làm thước đo thời gian tính toán lịch bảo dưỡng, lịch thay thế phụ tùng. Vậy số giờ chạy máy là gì?

Giờ chạy máy(Runing hour) là tổng số giờ máy chạy(động làm việc), không kể thời gian nghỉ chờ standby. Bao gồm số giờ máy chạy có tải + số giờ chạy máy không tải.

giờ có tải (Load hour) là tổng số giờ máy chạy có tải (sản sinh ra khí nén)
giờ không tải(Unload hour) là số giờ máy nén khí chạy vô công. Máy nén không sản sinh ra khí nén nhưng động cơ vẫn quay nó tiêu tốn khoảng 40 đến 60% điện năng lúc có tải. Số giờ chạy máy dùng tính toán, làm thước đo lịch bảo dưỡng là số giờ chạy máy(Runing hour)

Check list bảo dưỡng/sửa chữa là danh sách tên phụ tùng, mã phụ tùng, thay thế theo chế độ bảo dưỡng hoặc sửa chữa. Nó được tính theo giờ chạy máy nén khí (3000h, 6000h, 8000h, 72000h...)
Thông thường Check list được cung cấp bởi nhà sản xuất. Tuy nhiên trên thực tế Check list được tạo ra bởi đơn vị sửa chữa và bảo dưỡng máy nén khí. Nó căn cứ vào hiện trạng máy nén khí đang xử dụng. Thông thường nó sẽ nhiều hạng mục hơn Check list khuyến cáo từ nhà sản xuất.
Với đơn vị bảo dưỡng giá rẻ thường check list sẽ được rút gọn đến tối thiểu thông thường chỉ bao gồm lọc máy nén, dầu, vệ sinh giàn làm mát.
Với đơn vị lớn về bảo dưỡng Check list thường nhiều hơn nhu cầu thay thế và sửa chữa thực tế nhằm bán được nhiều phụ tùng hơn. Bằng chứng các hãng máy nén khí luôn có lợi nhuận từ bán máy mới nhỏ hơn lợi nhuận từ dịch vụ bảo dưỡng và cung cấp phụ tùng. Nếu bạn đọc qua bài viết này bạn cũng sẽ nhận ra những hãng mục thay thế phi lý được nhà cung cấp liệt kê.

Vậy một đơn vị bảo dưỡng tốt là đơn vị xử dụng một check list bảo dưỡng vừa đủ theo nhu cầu thay thế thực tế của máy nén khí. Đây cũng là lý do chính Huy viết bài này.


2, Bảo dưỡng lọc máy nén (Filter element)

Hạng mục này chỉ bao gồm lọc hao mòn bên trong máy nén khí, chưa bao gồm lọc đường ống, lọc phụ trợ sau máy nén.

Tại sao phải thay lọc sau 6000h/06 tháng~01năm chạy máy?
Lọc là bộ phận tham gia trực tiếp vào quy trình hoạt động của máy nén khí, nó không đóng vai trò bổ trợ như một số máy sản xuất khác. Tham khảo thêm bài viết về lọc dầu, lọc gió, lọc tách để biết thêm chức năng của lọc.
Lọc được làm từ màng giấy hoặc nguồn gốc từ giấy. Thành phần này sẽ bị suy giảm chức năng khi đã ngậm bụi, dầu máy nén khí
Khi nào cần vệ sinh hay thay lọc?
Thường lọc dầu, lọc gió, lọc tách, dầu được thay cùng nhau nên tôi sẽ nói chung cho 03 loại lọc.
Có hai cách tính tuổi thọ cho lọc phụ thuộc vào phương pháp bảo dưỡng bạn xử dụng
-Thay lọc theo số giờ chạy máy.
Cứ 3000h, 6000h chạy máy sẽ tiến hành thay lọc và dầu. Hình thức này áp dụng với phương pháp bảo dưỡng phổ biến nhất được áp dụng tại các nhà máy hiện nay. Phương pháp bảo dưỡng định kì. Ưu nhược điểm của phương pháp này so với 02 phương pháp còn lại bạn có thể đọc thêm

>> Sổ tay bảo dưỡng công nghiệp

-Thay lọc dựa theo thông số kĩ thuật:
Phương pháp này dựa trên chênh áp của lọc, nói cách khác là tổn thất áp suất của lọc để quyết định thời điểm thay lọc. Với các máy nén khí mới ngày nay sử dụng bảng điều khiển điện tử. Thương hiệu lớn thường tích hợp nhiều cảm biến áp suất, kết hợp đồng hồ đo áp suất tại các vị trí quan trọng trên máy.
Với lọc gió sẽ có công tắc báo nghẹt khi lọc gió bẩn công tắc sẽ tác động cảnh báo lọc gió bẩn, nếu vượt ngưỡng máy có thể dừng. Ngoài báo về bo điều khiển, tại bầu lọc gió có lắp chỉ thị màu xanh/vàng/đỏ cảnh báo cho thợ vận hành máy mức độ bẩn của lọc gió.

Lọc dầu thường chỉ có cảm biến nghẹt lọc dầu. Bên cạnh cảm biến nhằm đảm bảo luôn có dầu bôi trơn đầu nén trong mọi trường hợp lọc dầu sẽ có thêm van bypass. Vài thương hiệu như Sullair, Atlas van được tích hợp luôn trên đế bắt lọc dầu. Nếu màng lọc nghẹt chênh áp màng lọc lớn hơn giới hạn dầu có thể đi tắt qua lọc dầu.

Lọc tách dầu nếu máy có từ 02 cảm biến áp suất trở nên máy sẽ báo áp suất thùng dầu P1 tức trước lọc tách dầu, và cảm biến áp suất P2 báo áp suất tại đầu ra của máy nén khí. Khi đen ta P (P1-P2) lớn hơn ngưỡng cho phép máy sẽ báo nghẹt lọc tách dầu. Với người vận hành khi quan sát thấy độ chênh áp nằm từ 0.25~0.75Mpa(kg/cm2) thì lọc tách còn hoạt động tốt. Chênh áp xấp xỉ 0.75Mpa hoặc hơn tức lọc tách cần phải thay trước khi đến ngưỡng nghẹt(0.85~1Mpa). Thông số này cũng đánh giá chất lượng của lọc tách tốt hay không tốt. Lọc tách tốt sẽ có độ chênh áp thấp và duy trì với thời gian dài. Lọc kém chất lượng có độ chênh áp cao hoặc nhanh đạt ngưỡng nghẹt.


Lưu ý: Khi thay lọc dầu/ lọc tách cần thay dầu đồng bộ. Việc thay lọc khi chưa thay dầu sẽ làm lọc nhanh nghẹt hơn vì nó phải làm việc với dầu cũ đã chứa lượng bẩn sẵn có. Tuổi thọ lọc cũng phụ thuộc lớn vào chất lượng dầu. Một số hãng như Hitachi sẽ không tích hợp cảm biến P1 nhưng sẽ có đồng hồ áp suất gắn tại thùng dầu để đo áp suất P1. Máy cũng gắn thêm công tắc báo quá áp khi áp suất P1 lớn hơn giới hạn cho phép máy sẽ cảnh báo trên bảng điều khiển.

3, Dầu máy nén khí

Dầu thường được thay thế cùng lọc máy nén khí tại mục 1. Dầu máy nén khí đóng vai trò quan trọng bậc nhất đến khả năng vận hành của máy. Dầu gồm hai nhóm chính:
Dầu gốc khoáng có giá thành rẻ, tuổi thọ ngắn 2000~6000h chạy máy. Có nhiều rủi do về nhiệt cao, đóng keo
Dầu gốc tổng hợp: dầu chất lượng cao hơn dầu gốc khoáng có tuổi thọ 8000h ~ 12000h chạy máy.
Với bảo dưỡng dầu chỉ là một vật tư thay thế. Tuy nhiên chọn lựa và xử dụng dầu là cả một vấn đề rộng lớn được tôi viết trong series bài viết về dầu.
Dầu chuyên dùng cho thực phẩm, tẩy rửa máy. Nó ứng dụng cho máy nén làm việc chuyên biệt được tôi đề cập đến trong một bài viết chuyên biệt cũng nằm trong series bài viết về dầu máy nén khí.

4, Hạng mục thiết bị điện (electric system)

Hạng mục này thường bị bỏ qua trong những lần bảo dưỡng. Ngày nay cũng rất sẵn có các thiết bị đóng cắt thay thế nên việc bảo dưỡng thường không áp dụng. Nếu bạn chỉnh chu bạn nên tiến hành bảo dưỡng định kì. Nó thực sự hữu ích khi máy nén khí của bạn có xuất xứ từ các nước G7, thiết bị điện trang bị cho máy có thể sử dụng điện áp 24V, 110V loại không bán sẵn trên thị trường. Trong tủ điện của máy nén có lẽ bạn cần quan tâm nhất đến kiểm tra thiết bị đóng cắt tránh move tiếp điểm,tụ điện lắp song song với khởi động từ bị già hóa. Kinh nghiệm sửa máy của tôi cho biết động cơ bị cháy là chuyện bình thường, không phải máy nén khí nào cũng được bảo vệ dòng bằng TI, lắp Atomat bảo vệ đúng dòng làm việc của máy nén. thiết bị bảo vệ cần test định kì để chắc chắn nó còn hoạt động không bị kẹt bởi một chú thạch thùng hay rỉ sét.

5, Động cơ và biến tần (Motor-Invecter)

Với dơn vị bảo dưỡng chuyên nghiệp động cơ được quan tâm bảo dưỡng định kì bơm mỡ vòng bi, kiểm tra độ dung, loại động cơ hở làm mát quận dây trực tiếp bằng gió cần vệ sinh bụi bẩn...Tuy nhiên cũng không thiếu đơn vị xử dụng không làm bảo dưỡng động cơ dẫn đến một số sự cố về vòng bi, cháy, kẹt, cong, vẩy trục. Với động cơ một số hãng có tích hợp công tắc nhiệt nhắc nhở bơm mỡ, kiểm tra khi nhiệt độ động cơ chính cao. Máy nén khí Atlas copco còn gắn phớt chắn dầu tại khoang động cơ việc bơm mỡ càng được lưu ý, vì nếu có sự cố với động cơ chi phí xử lý sẽ tốn kém, vật tư và nhân công kĩ thuật. Trên các động cơ thường gắn tem nhãn về số giờ bơm mỡ (3000/4000/6000h) Kèm số lượng mỡ bơm trên ổ bi 20gam/30gam hay 40gam.

Với vòng bi có nắp được tra mỡ sẵn nó có thể chạy hết tuổi thọ mà không cần tra thêm mỡ. Tuy nhiên bạn cần xác định chính xác máy nén của mình có đang xử dụng loại vòng bi có nắp hay không. Tôi đi làm và nhận thấy nhiều hãng ghi nhãn động cơ xử dụng bi có nắp nhưng bên trong vẫn dùng bi không nắp, cũng có trường hợp vòng bi được cậy bỏ 01 bên nắp để chắn mỡ văng vào phía roto động cơ nhưng nắp đối diện vẫn để hở phục vụ bơm mỡ định kì.

Biến tần là thiết bị điện tử có nhiều linh kiện điện tử công suất nên phát sinh nhiệt lớn trong quá trình hoạt động. Đảm bảo biến tần được làm mát tức tăng tuổi thọ cho biến tần. Công việc bảo dưỡng biến tần là gắn liền với vệ sinh bụi, vệ sinh quạt làm mát, thay quạt làm mát định kì(cooling fan). Những hãng mục bảo dưỡng chuyên sâu hơn không áp dụng với thợ máy nén khí. Thường sẽ sửa hoặc thay khi hỏng.

6, Van và cụm van

Máy nén khí là hệ thống xử dụng rất nhiều van, van khí nén, van điện khí nén, van dầu, van nhiệt...Hệ thống van của máy nén khí được chia làm hai nhóm van chức năng và van bảo vệ. Một thợ sửa máy nén khí lành nghề, xử lý sự cố nhanh, giúp máy hạn chế tình trạng hoạt động phập phù có lẽ hiểu biết chức năng các loại van kĩ năng đánh giá, bảo dưỡng ra quyết định thay thế hợp lý là quạn trọng nhất. Tất nhiên bạn có thể bù đắp bằng cách thay thế nó định kì. Nhưng một thực tế phũ phàng máy nén khí có thể được thay lọc, dầu một cách lãng phí thì van lại thường không được quan tậm. Sau 5 năm hoạt động máy thường có các dấu hiệu hoạt động sai, không đầy đủ chức năng nguy hiểm nhất là thợ sửa máy nén cắt bớt chức năng hoạt động hoặc bảo vệ các cụm van làm máy hoạt động tiêu tốn điện năng, sảy ra hư hỏng nặng vì không còn chức năng bảo vệ.

Với các cụm van bạn sẽ thấy các bộ KIT là quan trọng, trong bộ kít thay thế roăng cao su là chủ chốt. Roăng cao su là thành phần cần được thay thế khi bảo dưỡng, với các cụm van không ngâm dầu thì mỡ bôi trơn là vị thần bảo trợ cho cụm van được hoạt động bền bỉ.

Van quan trọng
Cụm van cổ hút, van điện từ, van điều áp, van quá áp, van xả cấp tốc (blow-of valve) đây là nhóm van điều khiển trực tiếp việc đóng mở tải máy nén khí. Nó liên quan trực tiếp đến hiện tượng máy chạy không có khí, máy chạy quá áp không dừng, máy bị ộc dầu cổ hút khi dừng máy....

Van hồi dầu (oil recovery check valve)
Thực chất đây là van một chiều có chức năng cho dầu hồi thu được sau màng tách dầu sẽ quay lại đầu nén. Van này tuy bé và đơn giản nhưng lại có tác động lớn đến hiện tượng hao dầu, khí xử dụng có hàm lượng dầu lớn hơn cho phép (>3~6 microgam/m3 khí nén). Do lượng dầu thu hồi sau màng tách dầu thường nhỏ nên đường hồi dầu thường bị thu hẹp tại vị trí van hồi dầu nhằm đảm bảo lượng dầu hồi về vừa hết tránh thất thoát khí nén. Van cũng thường tích hợp lưới lọc cặn. Hai yếu tố trên dẫn đến một nhược điểm van có thể bị nghẹt, tắc bởi chính giấy màng lọc tách dầu thoát ra, roăng amiang làm kín tách, keo làm kín mặt bích bôi thừa, keo dầu, ghim dẫn điện của tách dầu....Van cần được vệ sinh, bảo dưỡng định kì.

Van nhiệt (Thermostat valve)
Van nhiệt là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến máy nén khí hoạt động nhiệt độ cao vào mùa hè. Van nhiệt được cấu tạo với ti giãn nở tỉ lệ với nhiệt độ. Khi nhiệt độ thấp hơn 45 độC với đa số hãng máy một số hãng sẽ thấp hoặc cao hơn van sẽ ở trạng thái đóng hoàn toàn đường dầu từ bình dầu qua giàn trao đổi nhiệt. Khi nhiệt độ tăng nên van sẽ mở dần cửa cho lượng dầu qua giàn trao đổi nhiệt tăng nến. Đến 72~80 độ C van sẽ mở hoàn toàn cho toàn bộ 100% lượng dầu đi qua giàn làm mát. Van tuy không cần bảo dưỡng nhưng cần test và thay định kì nếu có thể. Những dấu hiệu cho thấy van bị hỏng. vào mùa đông nhiệt độ dầu máy hoạt động quá thấp dưới 70 độ C. Trong dầu suất hiện nhũ tương nhìn qua mắt thăm dầu có màu trắng sữa, nhiều bọt. Máy hoạt động với nhiệt độ cao. Lưu ý nhiệt độ cao có nhiều nguyên nhân, van nhiệt là một trong nhưng nguyên nhân hàng đầu.

Van chặn dầu (Oil stop) Với đa số hãng máy cụm van này hoạt động bền bỉ nhờ ngâm trong môi trường dâu và kết cấu đơn giản. Riêng với van chặn dầu máy Atlas copco bạn nên thường xuyên bảo dưỡng, thay roăng / KIT.

Van áp suất tối thiểu (MPV)
Đúng như tên gọi cụm van có chức năng duy trì áp suất tối thiểu bên trong máy nén khí nhằm đảm bảo dầu luôn được tuần hoàn trong máy nén. Dầu trong máy nén hoạt động dựa trên chênh lệch áp suất cao của bình chứa dầu với áp suất thấp điểm hút khí của đầu nén. Cụm van này thường hoạt động trong môi trường có hơi nước, nóng nên roăng cao su hay giòn, lo xò han rỉ dẫn đến gãy.

Ngoài chức năng duy trì áp suất tối thiểu (2~4,5Mpa) cụm van này còn là van một chiều đảm bảo khí từ tải không rò ngược lại bình dầu. Việc này ngoài đảm bảo khí không xông ngược lại các cụm van điều khiển nó còn ngăn chặn nước từ đường ống chảy ngược lại bình chứa dầu. Nước chảy ngược bình dầu là hiện tượng rất nguy hiểm nó choán thể tích dầu vì nước nặng hơn dầu làm dầu dâng nên cao và đi ra ngoài theo đường khí khi máy hoạt động, rò rỉ qua van xả cấp tốc, van cấp khí điều khiển ra bên ngoài máy. Với dầu máy nén khí giá rẻ nước nhiều không kịp bay hơi khi hoạt động sẽ làm dầu bị nhũ tương hóa, hiện tượng nhũ tương dầu lâu dài có thể phá hủy vòng bi và bề mặt trục vít. Tuy nhiên hiện tượng này nguy hiểm với máy nén khí hoạt động ít, máy dự phòng. Với máy hoạt động liên tục nhiệt độ dầu máy nén khí sẽ nhanh tróng đuổi lượng nước ngậm trong nó.

Van bảo vệ và van an toàn
Nhóm van này hằng năm cần được vệ sinh tra dầu mỡ, thay roăng cao su đảm bảo không bị rỉ sét, kẹt van khi máy bị sự cố van lại không bảo vệ gây nguy hiểm cho máy và người xử dụng khí.

7,Giàn trao đổi nhiệt /Két làm mát (Air cooler /Oil cooler)

Với giàn trao đổi nhiệt bằng khí cần vệ sinh bằng khí nén thường xuyên theo tuần hoặc tháng, vệ sinh bằng nước áp lực cao bên ngoài khi quá bẩn, nghẹt lan tản nhiệt, cáu két, sơn, bông, dầu mỡ... bám không vệ sinh bằng khí nén được.
Xục rửa bên trong, xử dụng hóa chất thích hợp với cặn bẩn dầu nếu có bám bẩn. Công việc này được hầu hết các thợ sửa chữa thực hiện. Ý thức được sự cần thiết thợ nghiệp dư đến chuyên nghiệp đều thực hiện.
Sự khác nhau trong bảo dưỡng két làm mát là đánh giá của thợ sửa chữa, sử dụng dụng cụ vệ sinh không làm móp méo lan nhôm tản nhiệt.
Không lạm dụng hóa chất tẩy rửa làm bong tróc lớp sơn, ăn mòn nhôm(vì nhôm rất rễ bị hóa chất tẩy rửa gốc axit, gốc bazơ ăn mòn)

Giàn trao đổi nhiệt nước
Cần quan tâm, dùy trì tình trạng nước mềm. vệ sinh cặn vôi định kì bằng hóa chất kết hợp cọ rửa cơ khí khi màng bám dầy. Không nên bỏ qua công việc bảo dưỡng này thường xuyên. Khi giàn trao đổi nhiệt đã đóng cặn vôi quá nhiều gây nghẽn đường nước làm mát, dòng nước chảy trong giàn trao đổi nhiệt bị thay đổi dẫn tới đóng cặn không đầu trên thành ống. khi cặn vôi đóng không đều việc loại bỏ tốn kém chi phí. Với các phương pháp tẩy cặn mạnh thường xử dụng hóa chất axit vô cơ gốc clo hoặc tương tự (Hữu cơ vẫn còn rất đắt ít dùng), ngay cả khi xử dụng hóa chất bảo vệ bề mặt nó vẫn có thể làm thủng các đống đồng dẫn dầu/khí. Lý do rất đơn giản thợ tẩy cặn căn cứ nồng độ hóa chất, nồng độ sản phẩm phản ứng hóa học để trâm thêm bớt hóa chất, cho hóa chất bảo vệ bề mặt kim loại. Nhưng do đóng cặn không đều sẽ có vị trí bám mỏng hóa chất sẽ ăn mòn hết cặn trước và ăn mòn đến ống đồng. Nếu điểm bám mỏng chiếm diện tích nhỏ khi kiểm tra nồng độ hóa chất phát hiện thay đổi thì đã quá muộn. Ống đồng trong giàn trao đổi nhiệt thường khá sát nhau và đặt so le nên phương pháp loại bỏ cơ thường không thực hiện được trong trường hợp này.

8, Linh kiện khác

Những hạng mục này thường không nằm trong chế độ bảo dưỡng định kì nhưng cần được kiểm tra thay thế khi cần thiết
- Khớp nối và Giảm trấn cao su. thay thế khi vỡ, hư hỏng
- Dây đai truyền động
-Ống cao su cổ hút
-Mắt thăm dầu, thước thăm dầ
-Cao su chân động cơ, chân đầu nén, chân thùng dầu
-Ống nối chống dung / ống thủy lực dẫn dầu
-Ống khí điều khiển
-Cánh quạt làm mát...

9,Bảo dưỡng cụm nén

Cụm nén là trái tim của máy nén khí, Nó là bộ phận quan trọng nhất của một máy nén khí trục vít ngâm dầu. Đầu nén (Airend) là nơi tạo ra chênh lệch áp suất khí nén(tạo ra khí nén). Với một đầu nén thông thường tuổi thọ đầu nén kéo dài ít nhất 40.000h chạy máy. Một số hãng như Sullair, Atlas tuổi thọ có thể đạt 100.000h chạy máy.
Nhưng nó có thể bị trục trặc sớm hơn thời gian công bố nếu không được duy trì đúng cách. Một đầu nén có thể bị hư hại do nhiệt độ hệ thống cực cao, chất bẩn, nhiễm bẩn hay dị vật, hóa chất.

Để ngăn chặn sự phát triển của các điều kiện gây hại, bạn phải kiểm tra đầu trên cơ sở định kỳ. 
Bạn hãy kiểm tra các vấn đề sau trong mỗi lần kiểm tra đầu nén trong máy nén khí trục vít của bạn:

Nhiệt độ đầu nén quá nóng: 
Đầu nén được xây dựng để chịu được phần nhiệt của nó. Các vấn đề nội tại máy nén như giàn trao đổi nhiệt bẩn, thông gió, lọc, dầu...có thể đẩy nhiệt độ vượt quá ngưỡng chấp nhận được. Theo dõi mức nhiệt của máy nén khí một cách thường xuyên để đảm bảo rằng các bộ phận bên trong không tạo ra quá nhiều nhiệt.

Tuy nhiên hiện tượng nhiệt độ cao là một vấn đề xuất phát từ nhiều nguyên nhân, rất thường gặp ở trong quá trình xử dụng. Huy có 01 bài riêng đề cập đến máy nén khí nhiệt độ cao.

Dầu máy nén khí: 
Như với bất kỳ cơ chế chuyển động cơ khí bên trong nào, đầu nén có thể bị mòn vì không được bôi trơn đầy đủ. Ma sát giữa các bộ phận kim loại được bôi trơn kém có thể tạo ra nhiệt dư thừa và đặt ra một chuỗi các vấn đề.

Ngưng tụ nước: 
 Nếu bạn không xả nước cho máy nén khí hàng ngày, sự ngưng tụ có thể lan truyền khắp các thành phần bên trong và gây ra các vấn đề về hệ thống. Ngưng tụ nước cũng có thể là một vấn đề nếu máy nén khí thiếu thông gió đầy đủ, đặc biệt là nếu hoạt động trong điều kiện nhũ tương hoặc ẩm ướt.

Ăn mòn rỉ sét: 
 Nếu ăn mòn hoặc rỉ sét phát triển trên đầu nén hoặc bất kỳ thành phần lân cận của máy nén khí. Điều đó chứng tỏ máy nén không được duy trì bôi trơn đầy đủ, thoát nước kịp thời. Các hình thức ăn mòn khi các bề mặt của các bộ phận kim loại hấp thụ độ ẩm hoặc phải đối mặt với ma sát nội bộ do sự bôi trơn không đầy đủ.

Quá áp suất cục bộ đầu nén: 
 Nếu máy nén khí gây áp lực quá nhiều chỉ để hoạt động ở mức thông thường, các bộ phận bên trong đã mất khả năng hoạt động bình thường. Một đầu nén có thể bị buộc phải làm quá sức nếu trục vít quá nóng do thiếu chất bôi trơn.

Điều chỉnh điều khiển sai: 
Trong một số trường hợp, đầu nén sẽ hao mòn với tốc độ tăng tốc do cài đặt không đúng. Kĩ thuật vận hành khai thác, giám sát khu vực máy nén khí tất cả nên được đào tạo thông thạo thiết lập thích hợp của một máy nén khí nhất định, đồng thời theo dõi các cài đặt này hàng ngày.

Rung động: 
 Nếu một máy nén khí làm rung động bất thường, các bộ phận bên trong có thể chịu đựng sự căng thẳng quá mức. Các rung động lạ cần được đánh giá như một sự cố khẩn cấp, máy nén cần phải được tắt và kiểm tra các vấn đề về đầu nén càng sớm càng tốt.

Rò rỉ dầu phớt chắn dầu: 
Nếu dầu rò rỉ, dầu của máy nén khí sẽ được thoát. Rò rỉ dầu khiến cho tiêu thụ nhiên liệu nhiều hơn lãng phí khi chúng dẫn đến ma sát cơ học và máy nén quá nóng. Nếu bạn phát hiện rò rỉ dầu, hãy tắt máy nén và kiểm tra vấn đề ngay lập tức.

Tiếng ồn lớn: 
Cũng giống như với rung động, tiếng ồn lạ và khác thường từ một máy nén khí nên được coi là lỗi cần dừng khẩn cấp. Trong một máy nén khí trục vít quay, một tiếng ồn bất thường thường sẽ là kết quả của vòng bi đầu nén mòn. Đặc biệt chú ý đến rò rỉ dầu và tiếng ồn lạ từ vòng bi động cơ vì đây là hai chỉ số chính của các vấn đề sắp xảy ra với máy nén khí.

10, Sấy, lọc, thiết bị phụ trợ

Thành phần thiết bị phụ trợ nhiều hay ít phụ thuộc yêu cầu chất chất lượng khí nén xử dụng cho dây chuyền.

1,Bình tích áp, đường ống truyền tải.
không áp dụng chế độ bảo dưỡng định kì với nhu cầu xử dụng khí cho nhà máy thông thường. Có áp dụng vệ sinh rỉ sét, bụi bẩn, làm sạch bề mặt không tạo điều kiện vi khuẩn phát triển với hệ thống khí nén dùng cho y tế, chế biến thực phẩm tiếp xúc trực tiếp, dược phẩm...Bình khí nén đạt chuẩn cần có cửa vệ sinh

2,Máy sấy tác nhân lạnh
Hoạt động như một điều hòa không khí. Sấy tác nhân lạnh sẽ làm hạ nhiệt độ khí nén. Lý tưởng cho một máy sấy khí là nó hạ nhiệt độ khí nén xuống 0~10 độC. Một số thương hiệu máy xuất xứ Hàn Quốc có thêm giàn làm mát(affter cooler)lắp sau máy nén trước máy sấy. Chức năng giàn làm mát giúp hạ nhiệt độ khí nén sau máy nén cao xuống gần nhiệt độ môi trường. Nhờ vậy nó giúp máy sấy hoạt động tiết kiệm năng lượng hơn.

3,Máy sấy hấp thụ
Được dùng cho ngành y tế, dược phẩm, điện tử công nghệ cao
4,Lọc đường ống
5,Van xả nước

Đùa dí vòi khí nén vào mông đồng nghiệp, ai ngờ bạn chết tại chỗ !

Bạn là thợ làm về khí nén vậy đã thử ? 

Dưới đây là 02 ví dụ điển hình cho bạn  kèm video. Chúc anh em làm việc an toàn.

=>Tóm tắt vụ số 1: 
Khi đang làm việc cùng nhau,  đột nhiên Anh Akio Ishimaru 46 tuổi bị anh đồng nghiệp Yoshiyuki Yoshida 34 tuổi lấy vòi khí nén xịt vào mông làm chết vì bị khí nén áp suất lớn phá hủy nội tạng khi chưa kịp đến bệnh viện.
Một số người chia sẻ tại Nhật có vài vụ tương tự là xuất phát từ trò đùa "Kancho"  Tại Việt Nam gọi là "thục đít".

=>Tóm tắt vụ số 2: Mời xem video



Vụ số 1: Một công nhân Nhật Bản đã chết trong đau đớn khi bị người đồng nghiệp của mình nhét vòi nén khí áp suất lớn vào mông với mục đích trêu đùa.

Anh Akio Ishimaru, 46 tuổi, đã bị chấn thương nội tạng nghiêm trọng và tử nạn sau trò đùa thiếu suy nghĩ của người đồng nghiệp 34 tuổi Yoshiyuki Yoshida.
Tờ Asia Times cho biết Yoshida đã bị bắt do có liên quan đến tai nạn đáng tiếc của anh Ishimaru.
Báo cáo của sở cảnh sát nói rằng cả 2 đang làm việc cùng nhau ở một dây chuyền sản xuất tại thành phố Tsukuba thuộc quận Ibaraki, Nhật Bản khi Yoshida bất ngờ lấy vòi nén khí áp suất cắm mạnh vào mông của đồng nghiệp mình.
Nạn nhân xấu số Ishimaru sau đó nói rằng mình cảm thấy không được khoẻ. Anh không biết chiếc vòi nén khí với công suất cực mạnh đã tàn phá nội tạng bên trong cơ thể anh. Ishimaru sau đó chết trước khi xe cứu thương kịp tới nơi.
Khi được cảnh sát lấy lời khai, Yoshida nói: "Tôi thực sự chỉ coi đó là một trò đùa mà thôi. Tôi không hề nghĩ rằng nó sẽ gây ảnh hưởng đến tính mạng người khác!"
Sau đó, Yoshida đã bị cáo buộc tội tấn công dẫn đến chết người.
Thật kì lạ khi đây không phải trường hợp hi hữu tại Nhật Bản. Tuy có tỉ lệ tội phạm sử dụng súng và dao thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác, đã có rất nhiều người chết vì bị nhét máy nén khí vào mông trong thời gian gần đây.
Đại diện của sở cảnh sát Ryugasaki phát biểu: "Đây là quả là một bi kịch đối với nạn nhân nhưng đây không phải lần đầu chúng tôi ghi nhận những trường hợp như thế này. Máy nén khí đã được đẩy vào mông xuyên qua quần áo, và luồng khí áp suất cao đã làm chấn thương phổi gây nên cái chết của anh Ishimaru."
"Tuy vậy, chúng tôi vẫn đang chờ đợi kết quả chính xác từ việc khám nghiệm tử thi." – Đại diện của sở cảnh sát cho biết.
Một số người cho rằng việc rất nhiều người chết do bị tấn công khiếm nhã bằng máy nén khí xuất phát điểm từ một trò trêu chọc thời thơ ấu của trẻ con Nhật Bản là "Kancho", tạm dịch theo tiếng Nhật có nghĩa là "thuốc xổ".
"Kancho" là một trò đùa được thực hiện khi đứa trẻ chụm tay lại tạo thành hình dạng một khẩu súng, sau đó vừa chọc mạnh tay vào mông nạn nhân của mình vừa hét lên: "Kancho".
Đây quả thực không còn là một trò đùa trẻ con vô hại nữa khi nhiều người lớn vẫn giữ trò đùa này khi họ trưởng thành, và nó gây nên những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng tương tự với trường hợp của người công nhân xấu số kia.
Hai người đàn ông đã tử vong tại Nhật Bản từ tháng 12 năm 2017 đến nay vì trò đùa tai quái này. Một người chết do máy nén khí, người còn lại do máy hút bụi.
Điều này không chỉ xảy ra tại Nhật Bản. Ít nhất 2 người Ấn Độ, bao gồm 1 lao động trẻ em đã chết với tình huống tương tự.
Nguồn: Genk.vn 
Vụ số 2 tại Ấn Độ: 
Trò đùa tai hại của sếp khiến nhân viên tử vong vì hỏng nội tạng 
Video quay tại nhà máy cho thấy Aditya Jadhav đang cười khi đến gặp sếp. Người sếp lúc đó đang cầm một vòi phun khí nén, phun vào tóc và lưng của Jadhav.
Nhưng khi bị sếp phun vào mông, người đàn ông ngay lập tức ngã xuống sàn trong đau đớn.
Các nguồn tin địa phương cho biết các nội tạng của Aditya bị "tổn thương nghiêm trọng" sau trò đùa tai hại.


Người đàn ông đã chết 15 ngày sau đó, vào ngày 18.9.

Sự việc xảy ra tại một nhà máy ở quận Kolhapur, bang Maharashtra, Ấn Độ vào ngày 3.9.

Một nguồn tin địa phương cho biết: "Cảnh sát Shahpuri đã đệ đơn kiện và đang tìm kiếm người sếp - người đã mất tích kể từ ngày xảy ra vụ việc”.
Nguồn: 24h.com.vn